Các nhân tố về môi trường tác động đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được quan tâm của các nghiên cứu trước đây như Vũ Hữu Đức (1999), Tăng Thị Thanh Thủy (2009), Trình Quốc Việt (2009), Phạm Thị Thanh Hà (2009)… Mỗi tác giả có những nhận định riêng về các yếu tố tác động nhưng tựu chung đều cho rằng các yếu tố môi trường đã có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành và phát triển hệ thống kế toán Việt Nam. Luận án thừa nhận sự tác động các nhân tố môi trường đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, vì vậy luận án không tập trung khảo sát, kiểm chứng sự tác động đó mà chủ yếu tập trung trình bày quan điểm của tác giả về tác động của các nhân tố đến quá trình hình thành chuẩn mực kế toán Việt Nam nhằm giải thích các đặc điểm riêng của Việt Nam.

Tham khảo thêm các bài viết sau:
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá
+ các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng

(1). Nhóm nhân tố chính trị tác động đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Phần trình bày ở chương 2 cho thấy nhóm nhân tố chính trị có tác động mạnh mẽ đến quá trình hội tụ kế toán quốc tế hơn là quá trình hình thành hệ thống kế toán quốc gia. Điều này khá đúng với Việt Nam. Quá trình hình thành các chuẩn mực kế toán Việt Nam phản ảnh ý chí của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu để đạt được các mục tiêu chính trị và kinh tế. Nguyen & Richard (2011) cho rằng Việt Nam ban hành các chuẩn mực kế toán xuất phát từ áp lực để được chấp nhận là thành viên của WTO. Khi chuẩn bị gia nhập WTO và thực hiện chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã dứt khoát và mạnh mẽ thực hiện quá trình hình thành chuẩn mực kế toán với xuất phát điểm hầu như bằng không. Điều này cũng phù hợp với giải thích của Ramanna (2011) về tác động của chính trị đối với quá trình hội tụ kế toán quốc tế.

(2). Nhóm nhân tố kinh tế tác động đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù Nhà nước chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế. Trong chiến lược phát triển kinh tế đã nêu rõ Việt Nam cần phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp, đồng thời phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là DNNVV. Trong giai đoạn 2011 – 2015, mục tiêu phát triển DNNVV bằng việc thành lập mới 350.000 và đến ngày 31/12/2015 sẽ có khoảng 600.000 DNNVV.

Các DNNVV sẽ đóng góp khoảng 40% GDP (Cao Sỹ Kiêm, 2012). Đối với thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây có những biến chuyển tích cực, đặc biệt là thị trường chứng khoán đã có những tiến triển nhất định. Trong giai đoạn 2000 – 2005 vốn hóa thị trường đạt xấp xỉ 1% GDP nhưng đến năm 2006 quy mô thị trường đã đạt 22,7% GDP và tiếp tục đạt mức trên 43% GDP vào năm 2007. Do khủng hoảng kinh tế thế giới, mức vốn hóa trong những năm sau có giảm, tuy nhiên mức vốn hoá thị trường năm 2013 tăng so với năm 2012, đạt khoảng 964 nghìn tỉ đồng (tăng 199 nghìn tỉ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP. Sự gia tăng của các chỉ số đã đưa thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một trong mười quốc gia có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới. Tổng dòng vốn nước ngoài luân chuyển trong năm 2013 tăng 54% và giá trị danh mục tăng khoảng 3,8 tỉ USD so với cuối năm 2012. Số tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,27 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng 55% (Vũ Trọng, 2013). Với thị trường tài chính được lành mạnh cũng như thị trường chứng khoán ổn định thì ngày càng có nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước do đó đòi hỏi chất lượng thông tin phải hợp lý để đáp ứng nhu cầu ra quyết định kinh doanh. Điều này cũng đồng nghĩa các nguyên tắc, phương pháp kế toán cần phải được chuẩn hóa theo hệ thống chuẩn mực kế toán. Vấn đề này cũng tương tự như quan điểm của Robert et al (1998) cho rằng hệ thống kế toán phát triển phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

(3). Nhóm nhân tố pháp lý tác động đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Nhìn chung, các hoạt động kinh tế được điều hành bởi các Luật và các qui định pháp lý. Luật Kế toán (2003) quy định khá chi tiết về kế toán so với các quốc gia theo thông luật. Hệ thống chuẩn mực kế toán do Bộ Tài chính là một cơ quan nhà nước ban hành. Các qui định trong Luật Kế toán đã ảnh hưởng và chi phối đến các nguyên tắc và phương pháp của chuẩn mực kế toán. Trong môi trường pháp lý như trên, các tổ chức nghề nghiệp không có chức năng lập quy. Năm 2005, theo Quyết định 47/2005/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã giao bổ sung những quyền hạn cho Hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam trong đó chỉ dừng lại ở việc Hội cử cán bộ chuyên môn tham gia Hội đồng Kế toán quốc gia, các ban soạn thảo chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán hoặc soạn thảo Chế độ kế toán (Bộ Tài chính, 2005a). Điều này phù hợp với nhận định của Robert et al (1998) cho rằng hệ thống Luật, các qui định liên quan cũng như vai trò của tổ chức nghề nghiệp sẽ tác động đến hệ thống
kế toán quốc gia.

(4). Môi trường văn hóa tác động đến hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Sự tác động của văn hóa đến hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chính thống. Trong hệ thống đo lường các khuynh hướng văn hóa của Hofstede, Việt Nam được đánh giá với mức điểm tương ứng: chủ nghĩa cá nhân (70), khoảng cách quyền lực (20), né tránh những vấn đề chưa chắc chắn (40), định hướng dài hạn (30) và nam tính (80) (Hofstede, 2012). Với các thông số trên, áp dụng lý thuyết của Gray (1988), trong hệ thống kế toán Việt Nam tính chất thận trọng được đề cao, nhấn mạnh đến sự tuân thủ các qui định, hạn chế những vấn đề mang tính xét đoán. Điều này tỏ ra mâu thuẫn với thực tế Việt Nam nhanh chóng ban hành các chuẩn mực kế toán dựa trên chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, nhân tố chính trị đã lấn át nhân tố văn hóa. Điều này phù hợp kết luận của Birt et al (2011) và Borker (2012) khi nghiên cứu quá trình hội tụ của những quốc gia khác nhau trên thế giới, văn hóa không phải là nhân tố quyết định
ảnh hưởng đến quá trình hội tụ.

Tóm lại, chính trị và hệ thống pháp lý là những nhân tố tác động mạnh đến quá trình ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam, nó giải thích được tốc độ nhanh chóng và vai trò Nhà nước của quá trình này. Các nhân tố kinh tế và văn hóa không có vai trò rõ rệt trong giai đoạn hình thành chuẩn mực (2001 – 2006) nhưng có vẻ phát huy tác dụng trong những năm gần đây:

– Khi mục tiêu chính trị đã đạt được (Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 và gặt được nhiều thắng lợi ngoại giao trong những năm kế tiếp), quá trình ban hành và cập nhật chuẩn mực đã chậm hẳn lại, và chỉ mới được khởi động gần đây.

– Vị trí hạn chế của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế không tạo được sức đẩy Việt Nam phải tiếp tục cải cách về kế toán.